Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay

Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay?

Hiện ngành tôm Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì vai trò trụ cột khi có đóng góp hơn 40% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và hiện diện tại hơn 100 quốc gia mặc dù bối cảnh thị trường thủy sản đang có nhiều biến động mạnh. Giai đoạn 2027 có thể được dự báo là phép thử khắc nghiệt nhất đối với ngành không chỉ riêng Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Môi trường khí hậu biến đổi, dịch bệnh, cấu trúc sản xuất, trình độ trong chăn nuôi và sản xuất… là những thách thức chính của ngành. Hãy cùng Phú An Khánh tìm hiểu chi tiết ngay trong bài viết này nhé!

Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay
Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay

Áp lực từ biến đổi môi trường

Hiện nay, quá trình thâm canh hóa đã làm gia tặng bùn đáy, thức ăn dư thừa, chất thải hữu cơ gây nên tình trạng ô nhiễm nguồn nước. Dẫn đến vòng lặp suy thoái từ môi trường – dịch bệnh – gia tăng đầu tư đầu vào. 

Tại nhiều vùng nuôi tập trung, đặc biệt như ở Đồng Bằng Sông Cửu Long hay Nam Trung Bộ, với mật độ ao nuôi dày đặc, lượng chất thải hữu cơ đáng kể gây ra áp lực cho hệ thống kênh rạch, cửa sông và vùng ven biển. Khi xử lý không hiệu quả bùn đáy ao, thức ăn thừa, chất thải có thể làm chất lượng nước suy giảm, tạo ra nhiều khí độc, và tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh giữa các ao nuôi và vùng nuôi.

Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, công tác phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản trong năm 2025 đã ghi nhận tổng cộng 289 xã tại 18 tỉnh có dịch. Đáng chú ý là, tổng diện tích nuôi bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh là 7.080,6 ha, với tỷ lệ diện tích mắc bệnh chung là 1,56%. Khi dịch bệnh gia tăng, chi phí để phòng bệnh, chữa bệnh và xử lý môi trường cũng có thể làm mùa vụ thất bại, hiệu quả kinh tế không như kỳ vọng và làm bất ổn sinh kế, đặc biệt là với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

Ngoài ra, việc biến đổi khí hậu như nắng nóng kéo dài, nhiệt độ ngày càng tăng, mưa trái mùa, độ mặn biến động… cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho dịch bệnh phát sinh, môi trường nuôi tôm bị thay đổi dẫn đến việc nuôi tôm không đảm bảo chất lượng, chẳng hạn như nhiệt độ cao gây stress nhiệt cho tôm, tạo ra các tổn thương niêm mạc ruột và suy giảm tế bào máu, hay những cơn mưa kéo dài khiến độ pH và độ mặn môi trường nuôi thay đổi khiến mầm bệnh có cơ hội tấn công hệ miễn dịch vốn đã suy yếu của tôm, đồng thời còn gia tăng rủi ro đối với hạ tầng nuôi khi hạn hán kéo dài, triều cường và bão mạnh hơn. 

Cấu trúc sản xuất không đồng bộ

Sức ép đến từ sự cạnh tranh gay gắt của thị trường cũng như cấu trúc sản xuất là những yếu tố khiến ngành tôm gặp nhiều thử thách. Hiện nay, ngành Tôm Việt đang phải đối mặt với sự cạnh tranh của các quốc gia như Ecuador, Ấn Độ hay Indonesia – những nước có lợi thế về quy mô, chi phí sản xuất thấp và mức độ tập trung cao. Trong khi đó, sản xuất trong nước vẫn đang phụ thuộc vào các hộ nuôi nhỏ lẻ, chuỗi cung ứng qua nhiều khâu trung gian, và chi phí đầu vào cao. 

Việc không có cấu trúc sản xuất đồng bộ từ khâu chăn nuôi đến đầu ra không chỉ làm chi phí gia tăng mà còn không đáp ứng được những tiêu chuẩn về kỹ thuật, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Mà trong khi đó, với bối cảnh cạnh tranh ngày một lớn, sức ép từ các quy định chất lượng chặt chẽ từ nước ngoài, các rào cản kỹ thuật và thương mại ngày một tăng khiến cho các doanh nghiệp và người nuôi có thêm nhiều gánh nặng. Từ đó dẫn đến biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp, làm cho toàn bộ khâu sản xuất, đặc biệt là với các hộ nuôi nhỏ vốn đã hạn chế về nguồn lực cả về vốn, công nghệ, kỹ thuật… dễ bị tổn thương.

>>> Xem thêm:

Chuỗi giá trị và thể chế thiếu ổn định

Dù đã có các hợp tác xã và các tổ hợp tác được hình thành để tăng cường chuỗi liên kết giá trị, nhưng thực tế vẫn còn lỏng lẻo. Điều này làm cho hiệu quả trong việc phối hợp trong quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh hay tổ chức truy xuất nguồn gốc trở nên khó khăn ở quy mô cộng đồng.

Còn đối với mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người nuôi thì lại thiếu tính ổn định, hợp đồng dễ bị phá vỡ khi có những sự biến động về giá cả. Cùng với đó là thiếu hụt cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro, làm cho chuỗi giá trị bị suy yếu. Có thể xem đây chính là một trong những “nút thắt” rào cản lớn hiện nay làm cản trở quá trình xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.

Ngoài ra, công tác quy hoạch vùng nuôi, đầu tư hạ tầng dùng chung như xử lý nước thải, hệ thống điện… cũng chưa được đồng bộ với tốc độ thâm canh hóa. Việc giám sát chất lượng đầu vào còn nhiều bất cập, làm tình trạng vật tư kém chất lượng vẫn lưu hành trên thị trường. Khoảng cách giữa yêu cầu quản lý chuỗi giá trị hiện đại và thực tiễn sản xuất phân tán đang là một trở lực lớn đối với ngành tôm giai đoạn tới.

Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay
Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay

Thách thức về công nghệ và rào cản kỹ thuật 

Nhiều trang trại hiện nay đầu tư mạnh vào ao bạt, cảm biến, máy cho ăn nhưng lại thiếu sự kết nối đồng bộ giữa dữ liệu – quy trình – con người – thiết bị. Phần lớn quyết định vẫn dựa vào cảm tính là chủ yếu thay vì phân tích các dữ liệu thực tế.

Từ năm 2026, các doanh nghiệp chế biến phải đối mặt với quy chuẩn phúc lợi động vật khắt khe từ EU và Anh. Các chuỗi bán lẻ hàng đầu tại EU và Anh (Tesco, Marks & Spencer, Sainsbury’s) đã chính thức áp dụng quy chuẩn yêu cầu tôm phải được gây ngất bằng điện trước khi chế biến. Việc đầu tư hệ thống hạ tầng mới này không chỉ tạo áp lực tài chính lớn lên biên lợi nhuận vốn đã mỏng, mà còn chuyển dịch yêu cầu kiểm soát từ hồ sơ giấy tờ sang thực thi công nghệ trực tiếp tại nguồn (Kim Thu, 2026).

Ngày nay, những xu hướng công nghệ được ứng dụng trong nuôi tôm cũng đang được bức tốc mạnh mẽ với các mô hình như Biofloc, Eco-RAS, IoT và trí tuệ nhân tạo. Những giải pháp này giúp kiểm soát môi trường nuôi, giám sát tăng trưởng theo thời gian thực và hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí vận hành.

Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay
Thách thức của ngành tôm Việt hiện nay

Hiện ngành tôm Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì vai trò trụ cột khi có đóng góp hơn 40% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và hiện diện tại hơn 100 quốc gia mặc dù bối cảnh thị trường thủy sản đang có nhiều biến động mạnh. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025.

Mặc dù vậy, ngành vẫn đang đối mặt với nhiều áp lực và thách thức từ chi phí logistics tăng cao do căng thẳng địa chính trị, sức mua chưa phục hồi đồng đều tại các thị trường lớn, sự cạnh tranh gay gắt với các quốc gia xuất khẩu hàng đầu như Ecuador, Ấn Độ hay Indonesia…

Chính vì thế, để duy trì đà tăng trưởng bền vững hơn trước sức ép của sự cạnh tranh gay gắt và nhiều thách thức lớn đã kể trên, ngành tôm Việt cần thay đổi chiến lược dựa vào lợi thế sản lượng hay giá rẻ để chuyển mạnh sang phát triển chiều sâu. Hiện nay, các doanh nghiệp thủy sản đang dịch chuyển sang phân khúc giá trị gia tăng thay vì phụ thuộc vào sản phẩm thô, nhiều địa phương nuôi tôm cũng đang dần đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ cao, mô hình nuôi tuần hoàn và tiêu chuẩn xanh… nhằm đáp ứng yêu cầu càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.

>>> Xem thêm:

———–

Phú An Khánh tự hào là đơn vị phân phối nguyên liệu và phụ gia chất lượng và uy tín với hơn 12 năm kinh nghiệm trong ngành đến các công ty thức ăn chăn nuôi và thủy sản như Sunjin, Pilmico…vv cũng như là đơn vị phân phối uỷ quyền chính thức các sản phụ gia bổ sung đạm FML, Ajitein của Ajinomoto và Vedafeed của Vedan Việt Nam trên toàn quốc.

Chúng tôi rất hy vọng được hợp tác với Quý vị nếu Quý vị có nhu cầu nhập các mặt hàng nguyên liệu và phụ gia để tự sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản như cám mì, bã nành, cám gạo trích ly và các dòng phụ gia đạm như trên.

Để được tư vấn xin liên hệ với Phú An Khánh qua Hotline: 0916701099 – 0941181715 hoặc:

Hy vọng qua bài viết trên có thể giúp Quý vị có thêm nhiều thông tin hay. Hãy theo dõi chúng tôi để đón đọc thêm nhiều bài viết bổ ích!

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.